Ngẫm nghĩ... tiếng cười (Thứ Tư 14/02/2018 | 14:43 GMT+7)

VH- Hài kịch là nghệ thuật của trí tuệ trong niềm vui sống vàcái hài được dùng như một phương pháp nghệ thuật sáng giá nhất đểcon người vui vẻ giã từ quá khứ. Bởi vậy, cái hài nhảm nhí, sống sượng, dù diễn ra ở sân khấu miền Nam hay Bắc cũng chỉ phục vụ được một bộ phận công chúng. Đi tìm công chúng đông đảo, lôi kéo họ trở về với sân khấu hài  tử tế, với tinh thần khỏe mạnh của cái cười giã từ quá khứ, mang tính giải trí rất cao, vẫn đang là trăn trở khôn nguôi của nghệ sĩ sân khấu hiện nay.

Khi sân khấu Hài gây cười bằng nhược điểm hình thể

Không ngẫu nhiên, những danh hài lớn trên sân khấu và màn ảnh ảnh thế giới đều kiêng gây cười trên nhược điểm, thiếu sót về hình thể của con người. Tiếng cười, mang sâu sắc một triết lý sống khỏe mạnh, bao giờ cũng là một phương cách vui vẻ hân hoan, để nhân loại giã từ quá khứ. Có lẽ không dân tộc nào trên thế giới lại chối từ tiếng cười để giã biệt những điều không mấy vui hoặc buồn thảm của quá khứ. Với dân tộc Việt Nam, vốn có căn cốt là văn hóa nông nghiệp, và văn minh lúa nước, hiển thị trong ba hằng số, trên cơ sở 3 chữ “Nông”, theo định danh của GS. Trần Quốc Vượng, là Nông dân-Nông nghiệp-Nông thôn, với chủ thể của nền văn hóa này làngười nông dân Việt, quanh năm chân lấm tay bùn, đầu tắt mặt tối, miệt mài trồng lúa trên cánh đồng Việt, luôn phải hứng chịu thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, thì nhu cầu về tiếng cười lại càng trở nên cần thiết, như cơm ăn và nước uống. Không tình cờ, một kiểu nhân vật quan trọng và thịnh hành nhất của sân khấu Chèo, Tuồng là Hề Chèo, Hề Tuồng, và sau này là Hề Cải lương đã hiện diện tươi vui, rộn ràng, và là một sắc thái sân khấu cơ bản, không thể vắng mặt trong nghệ thuật diễn xướng các loại hình sân khấu dân gian truyền thống Việt Nam. Và nhân vật Hề hiện đại kiểu Tây của sân khấu phương Tây trong Hài kịch, Chính kịch và cả… Bi kịch nữa, khi đãdu nhập vào sân khấu Việt, được khán giả chào đón và yêu thích ngay từđầu thế kỉ 20, ở Sài Gòn và Hà Nội, Hải Phòng, nơi màngười Pháp đã xây dựng ba nhà hát Lớn của cả ba thành phố Việt, theo kiến trúc của nhà hát phương Tây…

Thêm nữa, về lịch sử sân khấu Việt, trước khi thể loại kịch phương Tây du nhập Việt Nam, nước ta đã hiện diện một nền sân khấu truyền thống, với diễn xướng dân gian trong lễ hội, trong sinh hoạt cộng đồng làng xóm, với loại hình rối nước, chèo cổ, tuồng cổ, cùng các nhân vật hài truyền thống như: nhân vật chú Tễu trong Rối nước, các nhân vật hề chèo, hề tuồng, hề cải lương. Bởi vậy, ngay từ trong cấu trúc mỹ học của sân khấu truyền thống Việt, nhân vật hài đã là một trong mấy mô hình nhân vật cơ bản của nghệ thuật gây cười, chẳng hạn như trong chèo cổ, kiểu nhân vật hài đứng ở vị trí thứ năm và không thể thiếu, đó là Đào-Kép-Lão-Mụ- Hề. Thời hoàng kim của sân khấu Việt hiện đại, những năm 80, 90 của thế kỷ 20, khi điện ảnh-truyền hình chưa phát triển bùng nổ như đầu thế kỉ 21, khán giả thậm chí đã phải xếp hàng dài để có được tấm vé xem hài kịch. Đến muộn, lại muốn xem, chỉ có cách mua vé chợ đen giá cắt cổ. Thời kì hoàng kim ấy không dung nạp và không để xảy ra trường hợp mà như nhà văn Phan Thị Vàng Anh từng nhận xét trong một tiểu phẩm hài đăng trên báo là khán giả phải “ra về lúc giải lao”, vì không có gì mới để xem tiếp, sân khấu toàn những điều không kịch tính, chẳng bất ngờ, không khiến khán giả cười để giải trí, để suy ngẫm, để đối thoại. Ra về nửa chừng, vì thấy vở diễn mới chỉ đụng đến túi tiền khán giả, chứ chưa đụng đến… trái tim.

Sau một thời gian lẽo đẽo chạy theo sau khán giả, việc khán giả quan tâm đến hài kịch, dù là hài trên sân khấu tươi sống, hay hài “đóng hộp” trên truyền hình, cũng đều là tín hiệu đáng mừng. Tất nhiên, mừng nhiều mà thất vọng cũng không ít vì tiếng cười trào phúng đang ít đi, còn những hành vi rẻ tiền, câu khách lại trở nên phổ biến.

Công chúng hài kịch không mấy ai chịu nổi việc các nghệ sĩ nam thi nhau giả gái trên truyền hình. Rồi không ngần ngại đem chuyện đời tư, chuyện phòng ngủ ra đùa bỡn, phô phang, kiểu lạy ông tôi ở bụi này.Và không ngại “tố khổ” , bêu riếu người bạn đời của mình, khi tình yêu hoặc tình vợ chồng đổ vỡ, ly tán. Và sau đấy, không ngần ngại cãi vã, kiện tụng. Người biễu diễn chẳng những không xấu hổ mà còn cảm thấy thích thú. Một nghệ sĩ hài đã bình luận rất xác đáng về việc này “gây cười bằng đời tư là giỡn mặt người xem”. Giỡn là một từ chuẩn, theo đúng cách dùng phương ngữ Nam Bộ.

Truyền hình thực tế với format đặc hiệu nước ngoài đã biến nhiều nghệ sĩ thành “tự nhiên chủ nghĩa”. Họ diễn hài theo lối diễn cương buông tuồng, phóng túng, không cần kịch bản, không cần nội dung, thích gì nói ấy, thích gì làm nấy, dửng dưng với hàng triệu khán giả đang xem truyền hình, đã nghiễm nhiên thành trường hợp phổ biến. Đó là biểu hiện thật đáng buồn của của sự thiếu vắng tài năng.

Hài kịch hai miền có sự tiếp biến về văn hóa

Hài Bắc – hài Nam, trước đây rất khác biệt về phong cách và dường như không có ý định cùng nhìn về một hướng. Nhưng trong bối cảnh bùng nổ các chương trình truyền hình, game show hài, bắt buộc phải có sự đổi mới cách tiếp cận công chúng. Nói cách khác, hài kịch hai miền đang có sự tiếp biến về văn hóa diễn hài kịch. Có điều, hài miền Nam có vẻ tốt hơn trong khi hài miền Bắc được đánh giá là “không còn hay như trước”.

Hài miền Nam vốn bị gắn mác hài nhảm, thậm chí có khi đã đi đến cùng sự nhảm nhí và nhạt nhẽo. Nhưng thời gian gần đây, yếu tố trí tuệ, sự biến hoá thông minh, linh hoạt đã được đưa vào tác phẩm. Thành Lộc, Hữu Châu, Hoài Linh là những nghệ sĩ điển hình cho sự thực thi điều này một cách chuyên nghiệp trên sân khấu sàn gỗ lẫn trên sân khấu truyền hình. Tôi thấy nhiều tiểu phẩm hài với diễn xuất của Hoài Linh kết thúc rất nhân văn, vui tươi và có hậu, điều mà công chúng sân khấu TP.HCM và rộng ra là cả vùng văn hóa Nam Bộ rất yêu thích, khi thưởng thức hài kịch.

Ngược lại, hài Bắc lại xuất hiện nhiều tác phẩm nhảm nhí, bắt chước miền Nam những năm về trước. Một thời, hài Nam chuyên trị lấy hình hài xấu xí của con người như răng vẩu, gương mặt biến dạng, dáng đi xiêu lệch vẹo vọ lệch để gây cười. Bây giờ, miền Nam hạn chế cách gây cười kiểu này thì miền Bắc lại bắt đầu lạm dụng.

Thể loại hài chính luận cũng có sự thay đổi. Trước đây, sân khấu hài miền Bắc lên hương với thương hiệu hài chính luận nhưng gần đây, một số tác phẩm chính luận lại nặng nề vì đạo diễn và tác giả kịch bản không chuyển hóa nội dung thành tiếng cười vui tươi, sảng khoái.

Sự cũ kỹ trong kịch bản và cách diễn xuất, cùng việc biến báo đầy sống sượng các vấn đề thời sự - xã hội thành tiếng cười thiếu đậm đà hương vị hài hước, đã khiến hài Bắc, vốn thơm nức tiếng bỗng trở nên lép vế. Không gì đáng tiếc hơn khi chính khán giả miền Bắc lại nhận xét hài Bắc nhảm và nhạt - điều mà trước đây không hề có.

Hai miền Nam - Bắc là hai không gian văn hóa vùng miền khác nhau. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, việc một số nghệ sĩ Bắc như Xuân Bắc, Tự Long tham gia các chương trình do đơn vị phía Nam tổ chức là một chiều hướng tốt. Cách đón nhận của khán giả hai miền với hài kịch không tương đồng, thói quen thưởng thức cũng khác biệt. Những ý kiến trái chiều và so sánh là không thể không có. Do vậy, muốn làm tốt, nghệ sĩ vừa phải giỏi ứng biến vừa phải giữ được bản sắc của mình...

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái

Print
Tags: